Vào năm 40 sau công nguyên, Hai Bà Trưng dựng cờ khởi
nghĩa với tâm nguyện “ nối lại nghiệp xưa họ Hùng” và đã đánh bại đội quân đô hộ
của đế quốc nhà Hán. Sau khi giang sơn của người Việt được giải phóng, Trưng Trắc
lên ngôi nữ hoàng đế, đặt tên nước là Lĩnh Nam, lãnh thổ gần tương đương với nước
Văn Lang của các vua Hùng ngày xưa, biên giới phía Bắc kéo tới Hồ Động Đình,
nay thuộc tỉnh Hồ Nam Trung Quốc. Trưng nhị được bầu làm vương của Giao chỉ.
Vương quốc Lĩnh Nam được chia làm 6 quận bao gồm: Nhật Nam, Cửu Chân, Giao chỉ,
Tượng Quận, Nam Hải và Quế Lâm mỗi quận có một vương gia. Điều này được phản
ánh trong câu: "Đô kỳ đóng cõi Mê Linh, Lĩnh Nam riêng một triều đình nước
ta"
Theo nhiều nguồn tài liệu, thì hai bà có đến hơn 70 tướng
lĩnh, trong đó có nhiều thủ lĩnh các nghĩa quân địa phương, hiện còn nhiều đền
thờ lập Thành hoàng làng ở miền Bắc Việt Nam và miền Nam Trung Quốc. Đặc biệt,
trong số này có nhiều nữ tướng lĩnh.
Thánh Thiên - Nữ tướng anh hùng:
Khởi nghĩa ở Yên Dũng, Bắc Đái - Bắc Giang. Tài kiêm
văn võ, được Trưng Vương phong làm Thánh
Thiên công chúa, giữ chức Bình Ngô đại tướng quân, thống lĩnh binh mã trấn thủ quận
Nam Hải. Hiện có đền thờ ở Ngọc Lâm, Yên Dũng, Bắc Ninh (Việt Nam) và ở cả
hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc.
Lê Chân - Nữ tướng miền biển:
Khởi nghĩa ở An
Biên, Hải Phòng, được Trưng
Vương phong làm Đông Triều công chúa, giữ chức Trấn
Đông đại tướng quân, thống lĩnh đạo quân Nam Hải. Hiện có đền Nghè ở An Biên, Hải
Phòng thờ bà.
Vũ Thị Thục: Khởi nghĩa ở Tiên La
(Thái Bình), được Trưng
Vương phong làm Bát Nàn đại tướng, Uy Viễn đại tướng
quân, Trinh Thục công chúa. Hiện có đền thờ ở Phượng Lâu (Phù Ninh, Phú Thọ) và
Tiên La (Hưng Hà, Thái Bình).
Vương Thị Tiên: được Trưng
Vương phong làm Ngọc Quang công chúa, được thờ ở đền Sầy
và miếu thờ ở xã Gia Sinh, huyện Gia Viễn, tỉnh
Ninh Bình. Tương truyền, bà có công giúp Hai Bà Trưng đánh giặc
và gieo mình tự vẫn tại xã Hữu Bị, huyện
Mỹ Lộc, phủ
Thiên Trường, Nam Định. Sau này đến đời vua Lý
Thái Tông có năm hạn hán lớn, nhà vua lập đàn cầu mưa, bà
còn hiển linh giúp dân chống hạn. Nhà vua giáng chỉ cho dân địa phương thờ phụng
theo nghi lễ đầy đủ hơn và tặng thêm hai chữ trong duệ hiệu, thành: Ngọc Quang
Thiên Hương công chúa.35
Ba vị tướng Đào Chiêu Hiển, Đào Đô Thống và Đào Tam
Lang của Hai Bà Trưng: Hi sinh trong trận Bồ Lăng, đánh với quân Hán tại khu vực
nay là ngã ba sông
Trường Giang và Ô Giang, thuộc địa phận thành phố
Trùng Khánh, Trung Quốc. Hiện ở đây có miếu thờ. Để tưởng nhớ công ơn của ba
anh em họ Đào, nhân dân Đa Tốn đã lập miếu thờ (Đào Đô Thống thờ ở miếu Sén
Tóc, thôn Ngọc Động. Đào Chiêu Hiển thờ ở Nghè Ông Hai, thôn Lê Xá và Đào Tam
Lang thờ ở nghè cũ sau chuyển về nghè Lê Xá). Về sau, từ thế kỷ XVII trở đi,
dân làng Ngọc Động và Lê Xá đã thờ ba ông làm thành hoàng làng 36 .
Nàng Nội - Nữ tướng vùng Bạch Hạc: Khởi nghĩa ở xã Bạch
Hạc (thành phố Việt Trì, Phú Thọ ngày
nay), được Trưng Vương phong làm Nhập Nội
Bạch Hạc Thủy công chúa. Hiện thành
phố Việt Trì có đền thờ bà.
Lê Thị Hoa - Nữ tướng anh
hùng: Khởi nghĩa ở Nga Sơn (Thanh Hóa), được Trưng
Vương phong làm Nga Sơn công chúa, giữ chức Bình Nam đại
tướng quân, phó thống lĩnh đạo binh Cửu Chân. Hiện có đền thờ ở Nga Sơn.
Hồ Đề - Phó nguyên soái: Khởi nghĩa ở động Lão Mai
(Thái Nguyên), được Trưng
Vương phong làm Đề Nương công chúa, giữ chức Phó
nguyên soái, Trấn Viễn đại tướng quân.
Đình Đông Cao, Yên Lập (Phú Thọ) thờ Hồ Đề.
Xuân Nương, chồng là Thi Bằng - em trai Thi Sách, trưởng
quản quân cơ: Khởi nghĩa ở Tam Nông (Phú Thọ), được Trưng
Vương phong làm Đông Cung công chúa, giữ chức Nhập Nội
trưởng quản quân cơ nội các. Hiện có đền thờ ở Hưng Nha (Tam Nông), Phú Thọ.
Nàng Quỳnh và Nàng Quế - Tiên Phong phó tướng: Khởi
nghĩa ở châu Đại Man (Tuyên Quang), được Trưng
Vương phong làm Nghi Hòa công chúa, giữ chức Hổ Oai đại
tướng quân, thống lĩnh đạo quân Nhật Nam trấn thủ vùng bắc Nam Hải. Hiện ở
Tuyên Quang còn miếu thờ hai vị nữ anh hùng.
Đàm Ngọc Nga - Tiền Đạo tả tướng: Khởi nghĩa ở Thanh
Thuỷ, Thanh Sơn, Phú Thọ, được Trưng
Vương phong làm Nguyệt Điện Tế Thế công chúa, giữ chức
Tiền Đạo tả tướng quân, phó thống lĩnh đạo binh Nam Hải. Hiện có đền thờ ở Khúc
Giang (nay thuộc tỉnh
Quảng Đông, Trung Quốc).
Trần Thị Phương Châu: Tuẫn tiết ở Khúc Giang (nay thuộc tỉnh
Quảng Đông, Trung Quốc) năm 39 sau Công nguyên, được Trưng
Vương phong làm Nam Hải công chúa. Hiện có đền thờ ở
Khúc Giang. Sử cũ có chép vào năm 1288, vua Trần
Nhân Tông đã sai Đại thần Đoàn Nhữ Hải qua Khúc Giang
trùng tu đền thờ bà.
Đinh Bạch Nương và Đinh Tĩnh Nương: Quê ở động Hoa Lư
(Ninh Bình), theo Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, được thờ ở đình Đông Ba thuộc
thôn Đông Ba, xã Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.
Thiều Hoa - Tiên Phong nữ tướng: Khởi nghĩa ở Tam
Thanh, Phú Thọ, được Trưng
Vương phong làm Đông Cung công chúa, giữ chức Tiên
Phong hữu tướng. Hiện ở xã Hiền Quan, Tam Nông, Phú Thọ có miếu thờ bà.
Quách A - Tiên Phong tả tướng: Khởi nghĩa ở Bạch Hạc,
Phú Thọ, được Trưng Vương phong làm Khâu Ni
công chúa, giữ chức Tiên Phong tả tướng, tổng trấn Luy Lâu. Hiện có đền thờ ở
trang Nhật Chiêu (Phú Thọ).
Vĩnh Hoa - Nội Thị tướng quân: Khởi nghĩa ở Tiên Nha
(Phú Thọ), được Trưng Vương phong làm Vĩnh Hoa
công chúa, giữ chức Nội Thị tướng quân. Bà có trận đánh thần kỳ dẹp tan quân của
đại tướng nhà Hán là Ngô Hán ở các
vùng Độ Khẩu (nay thuộc Vân Nam), Khúc Giang (nay thuộc Quảng Đông) và đảo
Hải Nam của Trung Quốc ngày nay. Đình Nghênh Tiên, xã
Nguyệt Đức, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc thờ Vĩnh Hoa.
Lê Ngọc Trinh - Đại tướng: Khởi
nghĩa ở Lũng Ngòi, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc, được Trưng
Vương phong làm Ngọc Phượng công chúa, giữ chức Chinh
Thảo đại tướng quân, phó thống lĩnh đạo quân Quế Lâm. Hiện có miếu thờ ở Vĩnh
Tường, Vĩnh Phúc.
Lê Thị Lan - Tướng quân: Khởi nghĩa ở Đường Lâm, Sơn
Tây, được Trưng Vương phong làm Nhu Mẫn
công chúa, giữ chức Trấn Tây tướng quân, phó thống lĩnh đạo binh Hán Trung. Hiện
ở Hạ Hoà, Vĩnh Phúc có miếu thờ bà.
Phật Nguyệt - Tả tướng thuỷ quân: Khởi nghĩa ở Thanh
Ba, Phú Thọ, được Trưng
Vương phong làm Phật Nguyệt công chúa, giữ chức Thao
Giang Thượng tả tướng thuỷ quân, Chinh Bắc đại tướng quân, tổng trấn khu hồ
Động Đình - Trường Sa. Bà hình như không được ghi vào sử
Việt Nam mà lại được ghi vào sử Trung Quốc. Bà có trận đánh kinh hồn chiến thắng
Mã Viện, Lưu Long và Đoàn Chí ở hồ
Động Đình (nay thuộc tỉnh Hồ
Nam,
Trung Quốc). Hiện di tích về bà còn rất nhiều: tại chùa Kiến Quốc thuộc thành
phố Trường Sa (thủ phủ tỉnh Hồ
Nam),
tại ngôi chùa trên núi Thiên Đài trong hệ thống dãy núi
Ngũ Lĩnh. Bà là nữ tướng gây kinh hoàng cho nhà
Hán nhất.
Trần Thiếu Lan: Hiện có miếu thờ tại cửa Thẩm Giang chảy
vào hồ Động Đình (nay thuộc tỉnh Hồ
Nam,
Trung Quốc). Cả ngàn năm qua, mỗi lần sứ thần của Việt Nam đi ngang qua đều vào
tế lễ bà. Hiện nay cũng còn một ngôi mộ mang tên bà.
Phương Dung: Khởi nghĩa ở Lang Tài (Bắc Ninh), được Trưng
Vương phong làm Đăng Châu công chúa, giữ chức Trấn Nam
đại tướng quân, thống lĩnh đạo binh Giao Chỉ.
Trần Năng - Trưởng lĩnh trung
quân: Khởi nghĩa ở Thượng Hồng (Hải Dương), được Trưng
Vương phong làm Hoàng công chúa, Vũ Kỵ đại tướng quân,
giữ chức Trưởng lĩnh trung quân. Hiện ở Yên Lãng, Vĩnh Phúc có đền thờ bà.
Trần Quốc hay nàng Quốc -
Trung Dũng đại tướng quân: Khởi nghĩa ở Gia Lâm, Hà Nội, được Trưng
Vương phong làm Gia Hưng công chúa, Trung Dũng đại tướng
quân, giữ chức Đô đốc, trưởng quản thủy quân trấn bắc Nam Hải. Bà có trận thuỷ
chiến lẫy lừng ở quận Uất Lâm (nay thuộc tỉnh Quảng Tây). Hiện ở Hoàng
Xá,
Kiêu Kỵ, Gia Lâm (Việt Nam) và cả dọc bờ biển các tỉnh
Quảng Đông, Phúc Kiến, Hải Nam của Trung Quốc có nhiều đền thờ
nàng Quốc. Dân ở các vùng này đã tôn bà là Giao Long tiên nữ giáng trần vì bà rất
hiển linh.
Tam Nương - Tả Đạo tướng quân: Ba chị em Đạm Nương, Hồng
Nương và Thanh Nương. Trưng
Vương phong Hồng Nương làm An Bình công chúa, Thanh
Nương làm Bình Xuyên công chúa, Đạm Nương làm Quất Lưu công chúa, giao cho chức
Kỵ binh Lĩnh Nam. Đình Quất Lưu, Vĩnh Phúc thờ Tam Nương.
Quý Lan - Nội Thị tướng quân: Khởi nghĩa ở Lũng Động,
Chí Linh (Hải Dương), được Trưng
Vương phong làm An Bình công chúa, giữ chức Nội Thị tướng
quân (Lễ bộ Thượng thư). Hiện ở Liễu Sơn, Lập Thạch, Vĩnh Phúc có đền thờ Quý
Lan.
Bà Chúa Bầu: Khởi nghĩa ở vùng Lập Thạch, Vĩnh Phúc.
Hiện ở Lập Thạch, Sơn Dương có đền thờ tưởng nhớ công lao của bà.
Sa Giang: quê Trường Sa, người Hán, sang giúp Lĩnh
Nam, được Trưng Vương phong làm Lĩnh Nam
công chúa. Bà là một nhân vật lịch sử. Hiện ở ngoại ô huyện Phong Đô tỉnh Tứ
Xuyên (Trung Quốc) có đền thờ bà.
Đô Thiên: người Hán, ứng nghĩa theo Lĩnh Nam, được Trưng
Vương phong làm Động Đình công, giữ chức Trung Nghĩa đại
tướng quân, thống lĩnh đạo quân Hán Trung, tổng trấn Trường Sa. Hiện vùng Lưỡng
Quảng của Trung Quốc có rất nhiều miếu, đền thờ ông.
Phùng Thị Chính: Tuấn Xuyên, Vạn Thắng, Ba Vì, được Trưng
Vương Phong làm "Trưởng nội thị tướng quân",
nổi tiếng với trận đánh ở Lãng Bạc, sinh con giữa trận chiến, một tay ôm con, một
tay giết giặc. Có đền thờ bà tại thôn Tuấn Xuyên, xã Vạn Thắng, huyện
Ba Vì, TP. Hà Nội
Ngoài ra còn có các thủ lĩnh người Tày, Nùng và Choang
(Quảng Tây) lãnh đạo nhân dân tham gia cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.
.
No Comment